top of page

Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam

Trong thực tế, quan điểm về bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp đã được Đảng và Nhà nước quan tâm từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), được triển khai trong Hiến pháp 1992 và trong các đạo luật. Chính phủ cũng đã phê duyệt Đề án 1715/2009/QĐ-TTg ngày 26/10/2009 nhằm đổi mới quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp theo hướng không phân biệt hình thức sở hữu. Tuy nhiên, đi ngược với mục tiêu của nhà nước, trên thực tế, bất BĐGCDN không giảm mà đang có xu hướng gia tăng, với tính chất ngày càng đa dạng và phức tạp. Vẫn tồn tại nhiều sự phân biệt, đối xử doanh nghiệp ngay từ khi gia nhập thị trường, trong quá trình kinh doanh và trong giải thể, phá sản doanh nghiệp. Các DNNN kinh doanh độc quyền trong nhiều lĩnh vực, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc thị trường. Một số tập đoàn kinh tế nhà nước được ưu tiên, bảo lãnh, khoanh nợ, giãn nợ, xóa nợ. Có những DNNN kinh doanh thua lỗ được sáp nhập vào tổng công ty nhà nước, giao trách nhiệm cứu vớt cho các thành viên khác mà không bị phá sản. Việc tiếp cận các dịch vụ công, nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ, tiếp cận nguồn tài nguyên, đất đai của DNNN có nhiều thuận lợi, trong khi các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) còn tiếp tục gặp phải những rào cản về điều kiện kinh doanh, vay vốn, thuê đất,... Không chỉ tồn tại những bất bình đẳng do chính sách của nhà nước tạo ra, thực trạng các doanh nghiệp cạnh tranh không lành mạnh, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng lậu, trốn thuế đang ngày càng gia tăng, vượt khỏi tầm kiểm soát của nhà nước cũng tạo ra bất bình đẳng, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp kinh doanh chân chính. Theo nghĩa khách quan, doanh nghiệp nào quản lý kinh doanh yếu kém, không cạnh tranh được tất yếu bị thanh lọc khỏi thị trường do chính sự vận động của quy luật cạnh tranh. Tuy nhiên, thực tế có những doanh nghiệp quản lý kinh doanh tốt, tôn trọng pháp luật chưa hẳn đã chiến thắng trên thương trường. Trong khi đó, doanh nghiệp quản trị yếu kém, thậm chí thua lỗ, vi phạm pháp luật nghiêm trọng vẫn có thể không bị giải thể hay phá sản. Lợi nhuận của doanh nghiệp vẫn có thể đạt được bằng những ưu tiên của nhà nước, bằng trốn thuế, kinh doanh trái phép. Trong môi trường kinh doanh đòi hỏi nhiều chi phí bất hợp pháp, tham nhũng, hối lộ để nhận được ưu tiên, hoặc làm hàng giả, cạnh tranh không lành mạnh nhằm tối đa hóa lợi nhuận mà không bị xử lý đều là những hành vi gây ra bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Với môi trường kinh doanh bất bình đẳng, lợi nhuận không phản ánh được giá trị đích thực của hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều đó làm nản lòng các nhà đầu tư, giảm động lực kinh doanh của doanh nghiệp và suy giảm tăng trưởng kinh tế. Sự nỗ lực của nhà nước Việt Nam trong những năm qua mới chỉ tập trung vào việc làm giảm bớt những ưu tiên, đặc quyền đối với DNNN mà chưa có giải pháp tổng thể, do đó chưa đem lại hiệu quả thực tế. Trước những đòi hỏi từ nội tại nền kinh tế và yêu cầu của những cam kết quốc tế, việc nghiên cứu các quy định pháp luật, đánh giá quá trình thực thi nhằm xác định đúng nguyên nhân và đưa ra giải pháp phù hợp, đảm bảo quyền BĐGCDN là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Chính vì lẽ đó, tác giả luận án đã chọn vấn đề "Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu.


Trích: "Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam"

Đại học Luật Hà Nội - Luận án Tiến sĩ Luật học


Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Dương Đăng Huệ

 

Tài liệu trên được dẫn từ: FDVN Lawfirm

Xem trực tiếp tại:


bottom of page